người đồng mình yêu lắm con ơi
"Người đồng bản thân thương lắm nhỏ ơi! Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn". Câu nói thân cận mà thân thương, người cha dạy nhỏ biết sẻ chia với những người đồng mình qua giờ đồng hồ hát "Người đồng bản thân thương lắm con ơi". Yêu mến cho hồ hết gian nan, vất vả họ đề xuất trải qua.
Người đồng mình yêu lắm con ơi. Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát. Rừng cho hoa. Con đường cho những tấm lòng. Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới. Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời. Câu hỏi: 1,Đoạn thơ trên viết theo thể thơ gì?
Các bạn nam hãy cảm nhận thử và lựa chọn ngay ca khúc này để hát tặng người mình yêu nhé! 5Karaoke Sau Tất Cả - Erik (ST. 319) (2015) Ca sĩ: Erik; Sáng tác:Nguyễn Khắc Hưng; Thuở thiếu thời vui lắm ai ơi. Em đâu rồi đã bỏ cuộc chơi bỏ anh bơ vơ với cây cầu dừa.
Người đồng mình thương lắm con ơi. Cao đo nỗi buồn. Xa nuôi chí lớn. Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn. Sống trên đá không chê đá gập ghềnh. Sống trong thung không chê thung nghèo đói. Sống như sông như suối. Lên thác xuống ghềnh. Không lo cực nhọc.
mình 29t đây. cũng có tương đương như hoàn cảnh cs của bạn. Nói chung là nên lập gia đình bạn ạ. Giờ thời buổi công nghệ, tình cảm ngày nay nông và ngắn lắm các cụ ạ. hợp ai thì tiến thôi.
Phân tích đoạn thơ sau : "Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng" (Trích "Nói với con" - Y Phương)
Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng. Nhà văn Nguyễn Tuân từng ca ngợi ông lái đò sông Đà có "bàn tay lái ra hoa". Một nhà thơ nọ, trước vẻ đẹp yêu kiều của cô văn công đã thốt lên: "mười nụ hoa trắng ngần thơm ngát bàn tay em".
"Người đồng mình yêu lắm con ơi. Đan lờ cài nan hoa. Vách nhà ken câu hát. Rừng cho hoa. Con đường cho những tấm lòng" Hơn thế, cái nôi nhỏ bé ấy, còn được đùm bọc bởi cái nôi rộng lớn đó là quê hương. Con lớn lên trưởng thành trong cuộc sống lao động trong thiên
goodgphousgivi1979. Phân tích đoạn 2 bài thơ Nói với con của Y Phương. …………….. Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con. Nói với con – Y Phương Cảm nhận ý nghĩa đoạn thơ trên. Từ đó hãy liên hệ vói khổ thơ hoặc đoạn thơ khác bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca, tự hào về con người, về đất nước quê hương mà em biết để thấy điểm gặp gỡ giữa những tác giả khi viết về nội dung này. Gợi ý làm bài I. Mở bài Giới thiệu tác giả, đoạn thơ trong tác phẩm nào? Nội dung cơ bản? Thời điểm sáng tác. Nhận xét những nét cơ bản về nội dung, nghệ thuật. Trích dẫn đoạn thơ cần phân tích… II. Thân bài – Người cha nhắc nhở con về phẩm chất và vể đẹp của dân tộc mình qua lời tâm tình với con “Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc” + Điệp ngữ “Người đồng mình” Cha thương buôn làng còn nghèo đói, còn vất vả. Chính từ thiếu thốn vất vả đó “Cha nói với con” tự hào với sức sống của dân tộc mình và có ý chính vươn lên mạnh mẽ từ trong cuộc sống. + Phép đối, liệt kê cùng phép tương hỗ “cao, xa, nỗi buồn, chí lớn” gợi nhắc về quê mình dù có sự khác biệt về vị trí địa lý, con cũng đừng mặc cảm tự ti mà trái lại hãy xem đó là một món quà vô giá để con có thể rèn luyện ý chí mạnh mẽ, quyết tâm xây dựng quê hương đất nước. + Điệp từ “sống” cùng phép liệt kê “đó, thung” quê hương như một bức tranh làng bảng thật đẹp. Quê hương có những khó khăn “gập ghềnh, nghèo đói”. + Điệp ngữ “không chê” nhấn mạnh một điều kiện kiên quyết, con không được phép quên đi những khó khăn, vất vả của quê hương. Bởi nơi đó con được nuôi dưỡng. + Liệt kê “sông, suối, thác, ghềnh” kết hợp với thành ngữ miêu tả hình ảnh mạnh mẽ của những con sông, con suối. Nhịp thơ tuôn chảy, mạnh mẽ gợi lên sức sống mạnh mẽ bền bỉ của con ngươi trước cuộc sống gian truân nhiều vất vả. Cha mong mỏi và tin tưởng ở con sẽ yêu quý mảnh đất của mình sẽ sống mạnh mẽ, can trường, chấp nhận khó khăn thử thách. – Niềm tự hào của người cha về mảnh đất quê hương với những phong tục tập quán và phẩm chất tốt đẹp thông qua các hình ảnh mộc mạc, gợi tả, đối lập, ẩn dụ, cách nói giàu hình ảnh đậm phong cách miền núi “Thô sơ da thịt”- “Chẳng nhỏ bé”, “Đục đá kê cao quê hương”… “Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục” – Lời khuyên con chân thành, tha thiết chứa chan kì vọng của người cha về bước đường trưởng thành của con, mong con sống xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của quê hương… “Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con.” Với lời thơ giản dị, mộc mạc và những hình ảnh thơ đẹp, giàu chất tạo hình “Thô sơ da thịt”- “Không bao giờ nhỏ bé”, lời cha căn dặn và “Nói với con” vang lên như một mệnh lệnh, thực sự mở ra một chân trời ước mơ bay bổng cho thế hệ trẻ mọi thời đại Hãy tiếp bước cha anh, thủy chung với quê hương, đất nước, không quay lưng, phản bội quê hương, trọn vẹn thủy chung, giàu ý chí để xây đắp quê hương… Liên hệ mở rộng tác phẩm văn học “Học sinh tự chọn” những tác phẩm đã được học và đã được đọc có cùng nội dung với bài thơ, đoạn thơ. Gợi ý Bài thơ Con cò của Chế Lan Viên. Câu chuyện bó đũa truyện ngụ ngôn Việt Nam Bài thơ Dặn con của Trần Nhuận Minh. C/ Kết bài Đoạn 2 bài thơ “Nói với con” là niềm tự hào lớn lao của nhà thơ đối với phong tục và truyền thống của quê hương, nguồn cội. Qua những giá trị đậm đà bản sắc dân tộc, đoạn thơ là lời căn dặn của cha đối với con mai sau phải ghi nhớ, gìn dữ và tiếp tục bồi đắp những giá trị ấy thêm lâu bền. Bài tham khảo Mở bài Lòng yêu thương con cái, ước mong thế hệ mai sau nối tiếp xứng đáng, phát huy truyền thống của tổ tiên, dân tộc vốn là một tình cảm cao đẹp của người Việt Nam suốt bao đời nay. Bài thơ Nói với con của Y Phương, một nhà thơ dân tộc Tày, cũng nằm trong nguồn cảm hứng nhân văn phổ biến ấy. Tác giả mượn lời một người cha chân tình, dặn dò con về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người, về những đặt điểm tính cách cao đẹp của quê hương, dân tộc với ước muốn đứa con hãy ghi nhớ, phát huy. Đoạn 2 bài thơ Nói với con đã thể hiện cách nói mộc mạc, giàu hình ảnh của người dân miền núi, đem đến cho bài thơ giọng điệu thiết tha, trìu mến, tin cậy. Đoạn thơ là niềm tự hào lớn lao về phẩm chất cao đẹp của người đồng mình và truyền thống quê hương “Người đồng mình…. ……………… Nghe con” Thân bài Đoạn thơ được nối tiếp theo sau đoạn cảnh người cha khơi gợi cội nguồn sinh dưỡng giúp đứa con khôn lớn, trưởng thành. Bằng đoạn thơ trên, người cha đã ngợi ca những đức tính cao đẹp của con người quê hương nằm khơi gợi cho con lòng từ hào về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ về truyền thống cao đẹp của quê hương và niềm mong ước con hãy tiếp tục xứng đáng với truyền thống ấy. Bắt đầu đoạn thơ bằng cụm từ “người đồng mình” với ý nghĩa là người vùng mình, người miền mình, cách nói giản dị của miền núi và được lặp đi lặp lại ba lần trong đoạn trích, Y Phương đã gửi vào đó niềm tự hào của mình về những đức tính cao đẹp của người dân miền núi bằng tấm lòng yêu mến vô hạn. Nếu trên kia “yêu lắm con ơi” là yêu cuộc sống vui tươi bình dị, yêu bản làng thơ mộng, yêu những tấm lòng chân thật nghĩa tình, thì đến đây niềm ước vọng càng thêm tha thiết “thương lắm con ơi”. Tình cảm được nâng lên nhiều lần bởi sau từ “thương” đó là những những nỗi vất vả, gian khó của con người quê hương. Người cha biểu lộ tình cảm yêu thương chân thành về gian truân, thử thách cùng ý chí mà người đồng mình đã trải qua. Người đồng mình không chỉ là những con người giản dị, tài hoa trong cuộc sống lao động mà còn là những con người biết lo toan và giàu mơ ước “Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn”. Ta dễ dàng nhận ra tính tả thực và phép ẩn dụ tượng trưng đã được nhà thơ vận dụng ở đây. Với phép tả thực, Y phương đã vẽ ra cảnh người dân miền núi mà ở đay dân tộc Tày có cội nguồn sinh dưỡng là những vùng núi cao ngút ngàn, rất hoang vắng và rất buồn bởi cuộc sống nghèo khó, nhọc nhằn. Tuy buồn, tuy khó khăn gian khổ nhưng họ vẫn bám đất, bám bán làng, vẫn thủy chung cùng quê hương. Và càng ở cao, càng gian khổ mới thấy được tấm lòng quyết tâm gìn giữ cội nguồn sinh dưỡng của người dân miền núi. Tư duy của người miền núi mộc mạc chân tình hiện lên trong cách so sánh độc đáo. Họ lấy hình sông, lấy dáng dáng để biểu thị vẻ đẹp của tinh thần và lối sống. Cách sắp xếp tính từ “cao”, “xa” trong sự tăng tiến, nâng cao mức độ cho thấy khó khăn, thử thách càng lớn thì ý chí con người càng mạnh mẽ, càng quyết tâm chinh phục, vượt qua. Có thể nói, cuộc sống của người đồng mình còn nhiều nỗi buồn, còn nhiều bộn bề thiếu thốn song họ sẽ vượt qua tất cả, bởi họ có ý chí và nghị lực, họ luôn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của dân tộc và không ngừng mơ ước đến tương lai nơi mà chí lớn sẽ vươn tới. Chính từ niềm mơ ước ấy, người cha đã nhẹ nhàng nhắc nhở đứa con hãy khắc ghi, rèn luyện, phát huy “Dẫu làm sao thì cha cũng muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh không lo cực nhọc”. Đoạn thơ với những hình ảnh cụ thể như núi rừng quê hương được Y Phương nhắc lại theo phép liệt kê “đá gập ghềnh”, “thung nghèo đói”, “như sông”, “như suối” , “lên thác xuống ghềnh”…”kết hợp với các điệp ngữ “sống…không chê…”, nhà thơ đã gợi lại cuộc sống vất vả, gian nan đầy thử thắt đối cới người dân Tày giữa hoan sơ đại ngàn. Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình. Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sống trước niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con người. Cách gợi của nhà thơ được đặt trong giọng điệu mạnh mẽ, chắc nịch, đầy quyết tâm và niềm tin tưởng. Một lần nữa y Phương trong vai người cha đã nhắc con nhớ rằng người đồng mình, người trong cùng bản làng của mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn. Thông qua đó, nhà thơ với vai trò người cha mong muốn đứa con phải biết tự hào về truyền thống quê hương, phải luôn tự tin, vững bước trên đường đời “Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”. Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúng với người miền núi. Tuy “người đồng mình” không mấy đẹp đẽ ở hình thức nhưng luôn ẩn chứa một sức mạnh tinh thần lớn lao, không bao giờ nhỏ bé, không bao giờ thôi ước vọng vươn cao. Lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng chứa bao tâm tình. Sự tương phản này đã tôn lên tầm vóc của người đồngmình. Họ mộc mạc nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí, về mong ước xây dựng quê hương. Lời cha giản dị, ân cần trang nghiêm, chắc nịch đã giúp đứa con nhận ra rằng chính nhờ những “người đồng mình” như thế, những con người có ước mơ xây dựng quê hương với những truyền thống, phong tục tốt đẹp “Người đồng mình tự đụng đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục”. Câu thơ đã khái quát về tinh thần tự tôn dân tộc, về ý thức bảo vệ nguồn cội, bảo tồn những truyền thống quê hương tốt đẹp của người đồng mình. “Đục đá” là công việc vô cùng nặng nhọc, đòi hỏi phải bền bỉ, nhẫn nại. “Đục đá” vào ý thơ dã trở thành hình ảnh sinh động, gợi cảm. Bởi qua ý thơ, hình ảnh ấy giúp ta hình dung hiện thực người dân lao động miền núi bằng khát vọng và ý chí “đục đá kê cao quê hương” đã tôn tạo vẻ đẹp văn hóa của dân trọi với bao thiên tai, bão lũ, bao bọn giặc hung tàn để gìn giữ, bảo vệ quê hương của cả dân tộc. Đó là hình ảnh Sơn Tinh thời Hùng Vương thứ 18 bốc từng quả cũng chính là hình ảnh anh hùng Núp và dân tộc Ba Na anh em đã quyết tâm không khuất phục giặc Pháp bảo vệ cho vùng đất Chư-lây thân yêu, làm nên chiến tích lịch sử. Cách mạng hào hùng cho quê hương, đất nước…. Hình dung ra điều ấy, ta mới thấy chi tiết “đục đá kê cao quê hương” là một hình ảnh ấn tượng, chứa chan niềm tự hào cao độ của nhà thơ đối với dân tộc thân yêu. Lòng mong muốn ấy còn được thể hiện trong giọng thơ thiết tha, trìu mến bởi ngữ điệu cảm thán “con ơi”; “đâu con”; ở những lời tâm tình dặn dò “nghe con” nhưng lại chắc nịch niềm tin của nối nói của người dân miền núi, vừa giàu hình ảnh vừa tự nhiên, xúc động lòng người. từ đó, ta cảm nhận điều lớn lao nhất là người cha muốn truyền lại cho đứa con là lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ với quê hương cao đẹp và niềm tin con bước vào đời “Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con”. Hành trang của người con mang theo khi “lên đường” không có gì khác ngoài niềm tự hào về quê hương, nguồn cội cùng với ý chí, quyết tâm và hi vọng lớn lao về một ngày mai tươi sáng. Người con lên đường khắc sâu lời cha dặn và không ngừng nhắc nhở mình thực hiện điều tâm nguyện ấy. Lời dặn của cha thật mộc mạc, dễ hiểu, thấm thía, ẩn chứa niềm hi vọng lớn lao của cha, hi vọng đứa con sẽ tiếp tục vững bước trên đường đời,tiếp nối truyền thống và làm vẻ vang quê hương. Kết bài Bằng những từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi cảm, lối nói miền núi mộc mạc, cách ví von sinh động, giọng điệu thiết tha trìu mến, nhịp điệu lúc nhanh lúc chậm đầy khát vọng làm người, đoạn 2 bài thơ Nói với con ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người đồng mình, cha mong con sống có tình nghĩa với quê hương, phải giữ đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của cha ông từ bao đời để lại. Hơn nữa, con phải biết chấp nhận gian khó và vươn lên bằng ý chí của mình. Y Phương đã rất tinh tế khi lựa chọn hình ảnh và giọng điệu khi biểu đạt. Hình như ông đã không hề “mĩ lệ hóa” hay tô vẽ gì thêm cho hình ảnh thơ. Cứ thế, rất tự nhiên, hình ảnh núi non và “người đồng mình” đi vào thơ ông một cách chân thực, hồn nhiên mà sâu sắc đến kì lạ. Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương
- Câu thơ "Người đồng mình yêu lắm con ơi" với sự kết hợp của ngữ điệu cảm thán và bộ ngữ "yêu lắm con ơi" thể hiện tình yêu thương con tha thiết của người cha khi nói với con về phẩm chất của người đồng mình. - Nghệ thuật ẩn dụ qua hình ảnh " cài lan hoa - ken câu hát " => người đọc hình dung được cuộc sống ,công việc và động tác lao động của người dân miền núi và cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của bàn tay của người miền núi cuộc sống được hồi sinh , nở hoa. Những lan trúc ,lan tre đã trở thành lan hoa và vách nhà không chỉ được ghép bằng gỗ, tre, nứa mà còn được ken bằng câu hát đầy nghị lực và niềm tin trong cuộc sống .Động từ "đan, cài, ken "trong câu thơ không chỉ miêu tả động tác làm việc cụ thể mà còn gợi tình cảm gắn bó đoàn kết ,luôn quấn quýt, đùm bọc tình làng nghĩa xóm của người dân miền núi dành cho nhau. - Nghệ thuật nhân hóa qua động từ "cho" kết hợp với hình ảnh ẩn dụ "hoa" và "những tấm lòng" rừng đâu chỉ cho nhiều gỗ quý mà còn cho hoa ,con đường đâu chỉ là đường làng ,đường đi học mà còn là đường tình nghĩa . => Thiên nhiên quê hương luôn mang đến vẻ đẹp để tô điểm cho cuộc sống, cho cảm xúc đã nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi con người.
Đề bài Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của người đồng mình qua bài thơ Nói với con Y Phương. *** » Tham khảo thêm Phân tích tình cha con trong bài Nói với con của Y Phương Vẻ đẹp của người đồng mình qua bài thơ Nói với concủa Y PhươngMột số bài văn mẫu phân tích vẻ đẹp của người đồng mình Vẻ đẹp của người đồng mình qua bài thơ Nói với concủa Y Phương Y Phương là một trong số ít những nhà thơ miền núi có những gắn bó lâu dài với hoạt động văn hóa nghệ thuật đến như vậy. Với một phong cách thơ hồn nhiên, trong sáng, chân thật và cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi, Y Phương đã có những đóng góp không nhỏ cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam ở thế kỉ XX. Một trong những bài thơ gây được tiếng vang lớn trong sự nghiệp cầm bút của ông, in sâu trong tâm trí độc giả đó là thi phẩm “Nói với con” 1980. Bài thơ là lời tâm tình thủ thỉ và niềm hi vọng của người cha dành cho con, mong con khôn lớn, thành người, phát huy những nét đẹp vốn có của quê hương, dân tộc mình. Qua bài thơ, Y Phương đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó quên về những phẩm chất tốt đẹp của “người đồng mình”. Bạn đang xem Cảm nhận vẻ đẹp của người đồng mình qua bài thơ Nói với con Trước hết, “người đồng mình” hiện lên là những con người tài hoa, khéo léo trong công việc lao động tươi vui Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng. “Người đồng mình” là để chỉ những người vùng mình, miền mình, những người cùng sống trên một miền đất, quê hương, cùng dân tộc. Câu thơ sử dụng từ ngữ hô gọi “con ơi” kết hợp với từ tình thái “yêu lắm” “yêu lắm” là cụm tính từ/ Tình thái từ là những từ thêm vào câu để tạo câu theo mục đích nói à, ư, hả, hử, chứ, chăng, hãy, đừng chớ, … và dùng biểu lộ tình cảm của người nói làm cho lời thơ trở nên ngọt ngào, chan chứa niềm tự hào với tình yêu thương quê hương da diết. Cuộc sống lao động cần cù và vui tươi của “người đồng mình” được gợi lên qua một số những hình ảnh rất cụ thể, giàu sức gợi “đan lờ” – dụng cụ đánh bắt cá của người dân miền núi, dưới bàn tay khéo léo đã thành “cài nan hoa”; những ngôi nhà sàn không chỉ được dựng lên bằng những tấm ván gỗ mà còn được tạo nên bởi những “câu hát” – chiều văn hóa, lối sống của “người đồng mình”. Những động từ “đan”, “cài”, “ken” vừa có tác dụng diễn tả những động tác lao động; lại vừa cho thấy những phẩm chất cần cù, chịu khó, yêu lao động, yêu cuộc sống, chan chứa niền vui của những bàn tay khéo léo, tài hoa của người dân miền núi. Đồng thời, cũng dưới khối óc, bàn tay chăm chỉ, chịu thương, chịu khó của “người đồng mình”, họ đã biến những khu rừng đất trống đồi núi trọc thành nơi cư trú tuyệt vời. Vì thế, rừng núi không chỉ cho măng, cho nứa, cho gỗ mà còn ban tặng cho con người cả những sản phẩm tinh túy nhất của trời và đất đó là những bông hoa tươi thắm rực rỡ sắc màu. Họ khai hoang, lập làng, lập bản, tạo ra những cung đường đi ra thung ra suối, con đường vào làng vào bản, con đường tới trường, tới lớp, con đường ra ruộng, ra đồng… Chính những con đường đó đã được dựng xây lên bởi những “tấm lòng” bao dung, nhân hậu, gắn bó tình đoàn kết của những con người nơi đây. Có thể nói, bằng đoạn thơ ngắn gọn với những hình ảnh cụ thể, chân thực, giàu sức khái quát, Y Phương đã làm nổi hình, nổi sắc những bàn tay khéo léo tài hoa trong cuộc sống lao động tươi vui, tràn ngập tình yêu cuộc sống của “người đồng mình”. Thiên nhiên và con người rừng núi hài hòa, gắn bó lẫn nhau trong một cuộc sống thanh bình, yên ả, thơ mộng, hiền hòa. “Người đồng mình” không chỉ là những con người tài hoa, khéo léo mà còn là những con người biết lo toan và rất giàu niềm tìn, ý chí, nghị lực trong cuộc sống Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Câu thơ đầu được điệp lại “Người đồng minh thương lắm con ơi” nhưng đã có sự thay đổi chút ít. Nếu như câu thơ ở khổ đầu là “yêu” tức là xuất phát từ tình cảm chân thành, từ trái tim tha thiết thì đến câu thơ ở khổ hai này lại là “thương”. “Thương” là một trạng thái tình cảm không chỉ xuất phát từ trái tim yêu thương chân thành nữa mà còn gói gém cả sự sẻ chia, đồng cảm ở trong lòng. Chính vì thế, “người đồng mình” – những con người cùng miền đất, quê hương, dân tộc cùng chí hướng đã đoàn kết, gắn bó, sẻ chia và đồng cảm với nhau mà dựng xây quê hương mình trở nên ngày một giàu đẹp hơn. Với nghệ thuật đối lập tương phản “cao đo – xa nuôi”, “nỗi buồn – chí lớn”, Y Phương đã diễn tả những trạng thái khác nhau của “người đồng mình”. “Nỗi buồn – chí lớn” là khái niệm vô hình nhưng đã được tác giả hình dung cụ thể như có hình, có khối. “Người đồng mình” buồn, lo lắng, khắc khoải ở trong lòng vì trước mắt họ là biết bao nhiêu là khó khăn, gian nan thử thách; khi mà cả quê hương họ còn chưa vươn tới được tầm cao nhân văn, vẫn còn quanh quẩn với cái đói, cái nghèo. Nhưng “Người đồng mình” không bao giờ nhụt chí, mà luôn mạnh mẽ, vững vàng đối diễn với những khó khăn, thách thức ấy, đưa quê hương tiến lên phía trước, trở nên giàu mạnh, phát triển, văn mình. Câu thơ giản dị, mộc mạc, chân chất những đã diễn tả được tinh thần, ý chí quật cường, mạnh mẽ của người dân vùng cao. Đối diện với nhiều khó khăn, thử thách nhưng “người đồng mình” vẫn luôn nguyện gắn bó, thủy chung, một lòng với quê hương, dân tộc mình Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc. Nhà thơ đã sử dụng rất nhiều những hình ảnh để nói tới cuộc sống của người miền núi như “đá gập ghềnh”, “thung nghèo đói”, “lên thác xuống ghềnh” có ý nghĩa diễn tả những khó khăn, vất vả, nghèo đói và nhọc nhằn mà họ đã và đang phải đương đầu. Điệp ngữ “sống … không chê” 2 lần, kết hợp với nhịp thơ nhanh, dồn dập và biện pháp so sánh “như sông như suối” có tác dụng diễn tả sức sống mạnh mẽ, mãnh liệt, bền bỉ của những người con miền núi cao trước cuộc sống khó khăn, vất vả khi mà chiến tranh lùi xa không được bao lâu. Qua đó, nhà thơ thể hiện niềm tự hào về “người đồng mình” với sức mạnh, ý chí thật phóng khoáng, đoàn kết, gắn bó thiết tha của họ đối với nơi chôn rau cắt rốn của mình. Không dừng lại ở đó, “người đồng mình” còn hiện lên là những con người bản lĩnh, mạnh mẽ, giàu nghị lực sống và luôn mang trong mình lòng tự tôn dân tộc với khát vọng dựng xây đất nước Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục. Nghệ thuật đối lập tương phản giữa ngoại hình và tâm hồn. Hình ảnh “thô sơ da thịt” diễn tả vẻ đẹp mộc mạc, bình dị, chân chất, khẳng khái của “người đồng mình”. Nhưng họ không hề “nhỏ bé” về tâm hồn mà ngược lại rất giàu lòng tự trọng, giàu chí khí, niềm tin cao đẹp với khát vọng dựng xây, phát triển quê hương. Muốn vậy, “người đồng mình” phải lao động Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục. Câu thơ có hai lớp nghĩa tả thực và ẩn dụ. Và tác giả đã miêu tả cuộc sống lao động của họ qua cụm từ “tự đục đá” thường thấy của người dân miền núi cao. Công việc của họ rất vất vả, nặng nhọc nhưng họ sẵn sàng tự nguyện làm vì sự phát triển của quê hương mình. Nhưng hình ảnh “kê cao quê hương” còn là hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng cho lòng tự hào, tự tôn dân tộc của “người đồng mình”. Chính những con người cần cù, nhẫn nại, bằng đôi tay lao động của mình đã làm nên quê hương, làm nên phong tục tập quán lâu đời tốt đẹp của dân tộc mình. Tóm lại, với cách tư duy diễn đạt giàu hình ảnh của người miền núi, kết hợp với hình thức tâm tình, trò chuyện nhẹ nhàng của người cha, Y Phương đã làm nổi bật lên những vẻ đẹp về ngoại hình và phẩm chất của những người con miền núi. Đó là những con người khéo léo, tài hoa và luôn có ý thức, trách nhiệm công dân cao độ đối trong công cuộc dựng xây, phát triển quê hương, đất nước. Khép lại trang thơ, người đọc không chỉ thấy được chất Tày thấm đượm trong từng câu chữ, hình ảnh mà còn thấy được cả sức sống và vẻ đẹp diệu kì của người dân miền núi. Qua đó, chúng ta thấy được tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ Y Phương đối với dân tộc mình. Một số bài văn mẫu phân tích vẻ đẹp của người đồng mình Bài số 1 Y Phương là một nhà thơ chiến sĩ. Thơ ông cuốn hút người đọc bằng vẻ đẹp vừa chất phác, mộc mạc, vừa mạnh mẽ, trong sáng. Ngôn ngữ và hình ảnh thơ của ông in đậm dấu ấn tư duy hồn nhiên và lối nói rất giàu hình ảnh của người miền núi. Vẻ đẹp của những người dân miền núi được thể hiện đẹp đẽ trong tác phẩm Nói với con. Phần mở đầu bài thơ tác giả đã khái quát cho con về cội nguồn con được sinh ra và nuôi dưỡng chính là trong tình yêu thương của cha mẹ và sự bao bọc, che chở của người đồng mình, của núi rừng thiên nhiên. Sau những lời lẽ hết sức tha thiết ấy, tác giả đi sâu khắc họa những vẻ đẹp của người đồng mình. Qua những vần thơ giản dị, chân thành những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình hiện lên thật rõ nét và đáng trân trọng, tự hào. Khổ thơ mở đầu bằng câu thơ ngập tràn tình cảm “Người đồng mình thương lắm con ơi”. Hai tiếng “người đồng mình” được nhắc lại một lần nữa là cách gọi thể hiện sự gần gũi, thân thương như trong một gia đình. “Thương lắm” – bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với cuộc sống nhiều vất vả, gian khó của họ. Rồi để sau đó là một loạt những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình được ông đưa ra. Trước hết họ là những người giàu ý chí nghị lực, kiên cường và bền bỉ “Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn” Câu thơ có cách diễn đạt vô cùng độc đáo, nỗi buồn và chí lớn vốn không thể định hình, định lượng nhưng lại được tác giả dùng cao để đo nỗi buồn, xa để đo ý chí của con người. Cách nói trên đã hữu hình hóa những trắc trở, khó khăn mà người đồng mình phải trải qua đồng thời còn cho thấy ý chí quyết tâm của họ. Trước mọi khó khăn, thử thách họ vẫn không ngừng cố gắng, không ngừng vươn lên. Những khó khăn kia chỉ là thuốc thử, tôi rèn ý chí của họ ngày một mạnh mẽ hơn. Không chỉ có ý chí kiên cường, họ còn thủy chung, yêu quê hương tha thiết Sống trên đá không chê đá gập gềnh/ Sống trong thung không chê thung nghèo đói. Nơi họ được sinh ra, lớn lên gặp biết bao khó khăn, trở ngại nhưng tuyệt nhiên họ chưa một lần kêu than. Các từ phủ định “không chê” được lặp lại hai lần kết hợp với điệp từ “sống” cho thấy sức sống bền bỉ, mãnh liệt của người đồng mình trước những gian truân của cuộc sống. Đồng thời lời thơ còn gửi gắm tâm sự, mong muốn của cha đến con mong con luôn thủy chung, tình nghĩa với bản làng, quê hương. Họ còn là người có lối sống phóng khoáng, mạnh mẽ và luôn luôn lạc quan “Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh không lo cực nhọc” Câu thơ ngắn, nhịp nhanh như lời thúc giục động viên. Hình ảnh so sánh “như sông như suối” khắc họa lối sống khoáng đạt của con người nơi đây, thành ngữ “lên thác xuống ghềnh” lại gợi nên cuộc sống lao động đầy vất vả. Thế nhưng họ vẫn “không lo cực nhọc” rất lạc quan, yêu đời. Câu thơ là lời khẳng định, ngợi ca của cha về vẻ đẹp của người đồng mình họ luôn sống mạnh mẽ gắn bó thiết tha với quê hương dù phải trải qua bao khó khăn, cực nhọc. Từ đó người cha muốn con sống mạnh mẽ vượt lên mọi ghềnh thác cuộc đời bằng ý chí, nghị lực của mình. Không chỉ vậy người đồng mình còn có những phẩm chất tốt đẹp khác khiến người cha rất đỗi tự hào. Đó là mộc mạc, giàu chí khí, niềm tin “người đồng mình tuy thô sơ da thịt…đâu con”. Họ có thể thô sơ, giản dị về vẻ bề ngoài nhưng lại không hề nhỏ bé về tâm hồn, ý chí. Tự lực tự cường xây dựng quê hương, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Câu thơ đã miêu tả thực công việc thường ngày của họ đục đá, đẽo đá để “kê cao quê hương”, làm cho quê hương ngày càng giàu đẹp, góp phần nâng cao vị thế quê nhà. Qua đó câu thơ còn ca ngợi tinh thần tự lực, tự cường, chăm chỉ của người đồng mình. Ý nghĩa hơn nó còn mang giá trị tinh thần to lớn “còn quê hương thì làm phong tục”. Ý thơ cho ta thấy một công việc giản dị nhưng trở thành phong tục, nét đặc trưng, biểu tượng của quê hương miền núi. Bởi vậy, câu thơ còn có ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc khái quát về tinh thần tự tôn, ý thức xây dựng phát triển và bảo vệ cội nguồn. Như vậy, bằng sự lao động cần cù, nhẫn nại hàng ngày người đồng mình đã làm nên quê hương với những phong tục tập quán tốt đẹp. Từ đó người cha mong muốn con kế tục và phát huy truyền thống quê hương, sức sống bền bỉ, mạnh mẽ của người đồng mình. Và hãy lấy đó làm hành trang để tự tin vững bước vào đời. Bằng lớp ngôn từ giản dị, giọng điệu thiết tha tự hào, tác giả đã bộc lộ niềm tự hào sâu sắc về những vẻ đẹp phẩm chất của người đồng mình. Đồng thời qua những lời thơ tha thiết ấy ông còn gửi gắm đến con những lời khuyên những nguyện ước chân thành con phải sống phòng khoáng tự do, luôn nỗ lực, cố gắng hết mình làm nên vẻ đẹp cho quê hương. Bài số 2 Y Phương là nhà thơ quen thuộc với những người miền núi, thơ của ông bình dị, mộc mạc, gần gũi. Bài thơ Nói với con là những lời tâm sự thủ thỉ của người cha dành cho con, đồng thời khuyên con trưởng thành phát huy vẻ đẹp của người đồng mình. Người đồng mình mà tác giả nói đến là người cùng vùng miền cùng sinh sống với nhau. Trong bài thơ “người đồng mình” xuất hiện khi thực hiện công việc hàng ngày thân thuộc Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng. Họ đang làm những công việc thường nhật với sự khéo léo, tỉ mỉ, những từ “đan”, “cài” mô tả các hoạt động nhưng cũng nói lên sự tài hoa, chăm chỉ của người dân. Người đồng mình hiện lên thật gần gũi, gắn bó với nhau. Khoảng cách giữa con người không còn thay vào đó tình cảm gắn bó như những người anh em ruột thịt trong một gia đình. Chỉ bằng một đoạn thơ ngắn nhưng tác giả đã giúp người đọc hiểu hơn về cuộc sống nơi đây với những con người gắn bó, với sự tài hoa của mình họ đang thay da đổi thịt quê hương, giúp cuộc sống thêm niềm vui và màu sắc. Con người miền núi có sự hài hòa với thiên nhiên làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa. Với tác giả “Người đồng mình” không chỉ giỏi giang, cần cù mà còn cả ý chí, nghị lực giúp cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, đó là những dòng thơ tiếp theo Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Tác giả thương cho những con người miền quê, tình cảm chân thành mà sâu sắc. Nghệ thuật đối lập sử dụng đó là “cao đo – xa nuôi”, “nỗi buồn – chí lớn”, tác giả nhận biết được những lo lắng trong những con người vì sự khó khăn khi quê hương còn đói nghèo đeo bám nhưng họ vẫn cố gắng vươn lên trong cuộc sống. Những câu thơ thể hiện ý chí mạnh mẽ, quyết tâm của người dân miền núi trong công cuộc đổi mới quê hương. Tinh thần vượt khó, thủy chung là điều mà tác giả muốn nói đến người đồng mình Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc. Mặc cho điều kiện sống khó khăn “sống trên đá”, “sống trong thung” nhưng người dân nơi đây vẫn không ngại khó, ngại khổ, sống với cái nghèo nhưng không chê quê hương nghèo khó. Y Phương muốn nói đến sức sống mạnh mẽ, mãnh liệt của con người nơi đây đồng thời muốn khen ngợi tinh thần, bản lĩnh của những con người quê hương mình. Họ luôn là những con người bằng xương thịt “thô sơ da thịt” thật giản dị, chân thật nhưng không bao giờ nhỏ bé, với quyết tâm đó người đồng mình mong muốn xây dựng quê hương giàu mạnh hơn. Niềm tự hào cùng với sự cần chù, chăm chỉ sẽ giúp họ thành công. Qua những lời kể của cha với con, người đồng mình hiện lên với nhiều vẻ đẹp khác nhau, sự tài giỏi, chăm chỉ và ý thức mong muốn xây dựng phát triển quê hương của những người dân tộc Tày. Vẻ đẹp, sức sống đó chính là niềm tự hào về quê hương của tác giả Y Phương. ——————————————————————– Qua một số bài văn mẫu phân tích vẻ đẹp của “người đồng mình” trong bài thơ Nói với con trên đây, hi vọng sẽ giúp các bạn hình thành những ý tưởng hay cho nội dung bài phân tích của mình. Tham khảo thêm các bài văn hay khác tại mục tài liệu Văn mẫu lớp 9 do THPT Ngô Thì Nhậm sưu tầm, tổng hợp để tự rèn luyện kỹ năng làm văn. Chúc các bạn học tốt ! Những bài văn hay trình bày cảm nhận về vẻ đẹp của người đồng mình trong bài thơ Nói với con của Y Phương – Văn mẫu tham khảo lớp 9 Đăng bởi THPT Ngô Thì Nhậm Chuyên mục Giáo dục
Tác giả tác phẩm lớp 9 Nói với conNói với con - Nội dung bài thơ, Hoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩmI. Vài nét về tác giảII. Tác phẩm Nói với conIII. Phân tích bài thơ Nói với conPhân tích bài thơ Nói với con mẫu 1Phân tích bài thơ Nói với con mẫu 2Cảm nhận về vẻ đẹp của người đồng mình qua bài thơ Nói với con - mẫu 1Cảm nhận về vẻ đẹp của người đồng mình qua bài thơ Nói với con - mẫu 2Nói với con - Nội dung bài thơ, Hoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩm được VnDoc sưu tầm và đăng tải nhằm giới thiệu Nội dung tác phẩm, Hoàn cảnh sáng tác nằm trong chương trình giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9. Hi vọng rằng đây sẽ là những tài liệu hữu ích trong công tác giảng dạy và học tập của quý thầy cô và các bạn học Vài nét về tác giảa. Tiểu sử cuộc đờiY Phương 24/12/1948 - 9/2/2022 là một nhà thơ Việt Nam, có tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước và là một người dân tộc Tày, quê ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao đời nhà thơ Y Phương "dù không cay đắng nhưng cũng mang nhiều nỗi muộn phiền", và chính những nỗi phiền muộn đã là nỗi ám ảnh trong cuộc đời và tuổi thơ Phương nhập ngũ năm 1968, phục vụ quân đội đến năm 1981 thì chuyển về công tác tại Sở Văn Hoá -Thông tin Cao Bằng. Năm 1986 về công tác tại Sở Văn hóa Thông tin Cao Bằng và từ 1991 là Phó giám đốc Sở Văn hóa Thông tin. Từ 1993 đến năm 2008, ông là Chủ tịch Hội văn học Nghệ thuật Cao Bằng, Uỷ viên BCH, Trưởng ban kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam khóa qua đời ngày 9 tháng 2 năm 2022 tại nhà riêng ở Hà Nội, không lâu sau sinh nhật lần thứ Sự nghiệp văn họcY Phương là một nhà thơ có phong cách riêng bởi khi sáng tác ông luôn đi tìm cái mới, cái độc Phương trong cuộc sống đời thường và Y Phương trong thơ là một, người đọc dễ tìm thấy ở ông một tiếng nói chung, đồng cảm. Văn chương với Y Phương là một trò chơi ngôn ngữ phục vụ cho chính bản thân nhà thơ và cho người phẩm của Y Phương gắn với chiều sâu thế giới nội tâm của ông. Những vần thơ của Y Phương được khơi nguồn từ sự sống, từ cuộc đời cụ thể, những trải nghiệm của ông. Khi cuộc sống đã trải qua biết bao thăng trầm thì tác phẩm của Y Phương thể hiện triết lí với nhiều trăn trở và suy suốt quá trình sáng tạo nghệ thuật, Y Phương luôn quan sát, chiêm nghiệm cuộc sống từ nhiều phương diện khác nhau. Cuộc sống đa dạng, phong phú nhiều chiều ấy đã tác động đến tâm trạng Y Phương vì thế quan niệm về văn chương, về thơ của ông cũng phong phú, sống động và nhiều ý phẩm Nói với con 1980, Người núi Hoa 1982, Tiếng hát tháng giêng 1986, Lửa hồng một góc 1987, Lời chúc 1991, Đàn then 1996,…II. Tác phẩm Nói với con1. Hoàn cảnh sáng tác- Bài thơ ra đời vào năm 1980 - khi đời sống tinh thần và vât chất của nhân dân cả nước nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng vô cùng khó khăn, thiếu thơ tâm sự “Đó là thời điểm đất nước ta gặp vô vàn khó khăn... Bài thơ là lời tâm sự của tôi với đứa con gái đầu lòng. Tâm sự với con, còn là lời tâm sự với chính mình. Nguyên do thì nhiều, nhưng lí do lớn nhất để bài thơ ra đời chính là lúc tôi dường như không biết lấy gì để vịn, để tin. Cả xã hội lúc bấy giờ đang hối hả, gấp gáp kiếm tìm tiền bạc. Muốn sống đàng hoàng như một con người, tôi nghĩ phải bám vào văn hóa. Phải tin vào những giá trị tích cực, vĩnh cửu của văn hóa. Chính vì thế, qua bài thơ ấy, tôi muốn nói rằng chúng ta phải vượt qua sự ngặt nghèo, đói khổ bằng văn hóa”.=> Từ hiện thực khó khăn ấy, nhà thơ viết bài thơ này để tâm sự và động viên chính mình đồng thời để nhắc nhở con cái sau Bố cụcPhần 1 Từ đầu đến “Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời” Người cha nói với con cội nguồn sinh dưỡng Con lớn lên trong tình yêu thương,sự nâng đỡ của cha mẹ, trong cuộc sống lao động nên thơ của quê 2 Còn lại Đức tính tốt đẹp của người đồng mình Người cha bộc lộ lòng tự hào về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, về truyền thống cao đẹp của quê hương và mong ước con hãy kế tục xứng đáng truyền thống ấy.=> Bố cục bài thơ chặt chẽ, đi từ tình cảm gia đình mở rộng ra tình cảm quê hương, từ những kỉ niệm gần gũi mà nâng lên thành lẽ Giá trị nội dungBài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống, niềm tự hào về quê hương, dân tộc mình. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc đến tình cảm đẹp đẽ với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống4. Giá trị nghệ thuật- Bài thơ được làm theo thể thơ tự do phóng khoáng làm cho cảm xúc cụ thể, rõ ràng, giọng điệu thơ trìu mến, thiết Ngôn ngữ thơ cụ thể, hàm súc, nhiều ý nghĩa, hình ảnh thơ độc đáo sinh động mang đậm bản sắc thơ ca miền núi cũng là những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác Nhịp điệu thơ vui tươi, các hình ảnh thơ đẹp, sử dụng các biện pháp nghệ thuật quen Cách nói giàu bản sắc của người miền núi, tạo nên giọng điệu riêng mộc mạc mà sâu sắc cua người cha đối với Ý nghĩa nhan đềChỉ bằng ba chữ ngắn gọn nhưng nhan đề đã vẽ ra trước mắt ta một bức tranh về người cha cùng đứa con thân yêu của mình đang ngồi trò chuyện với nhau. Người cha tỉ mỉ nói cho con nghe về truyền thống của quê hương, về những điều con phải nhớ. Nói với con không chỉ đơn giản là lời của người cha dặn con về cội nguồn, về nơi chôn rau cắt rốn mà còn là lời dặn tới thế hệ tương lai phải luôn ghi nhớ tới cội nguồn của mình, ghi nhớ đến gia đình, quê hương tình nghĩa để sống sao cho phù hợp, cư xử sao cho đúng Người đồng mình là gì?Người đồng mình Người vùng mình, người miền mình; người cùng sống trên một miền đất, cùng quê hương, cùng một dân đồng mình mộc mạc thô sơ da thịt nhưng ai cũng giàu chí khí, niềm tin chẳng mấy ai nhỏ bé xây dựng quê hương. Sự lao động cần cù của họ đã xây dựng nên quê hương với truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp. Từ đó, người cha mong con sẽ biết tự hào về truyền thống quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sốngNgười đồng mình thô sơ da thịtChẳng mấy ai nhỏ bé đâu conNgười đồng mình tự đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong lớn lao nhất mà người cha muốn truyền cho con là niềm tự tin, lòng tự hào về sức sống mạnh mẽ bền bỉ, cao đẹp của quê hương Phân tích bài thơ Nói với conPhân tích bài thơ Nói với con mẫu 11. Mở bàiGiới thiệu tác giả Y Phương và bài thơ Nói với ý học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của Thân bàia. Khổ thơ đầu4 câu thơ đầu tiếng lòng hạnh phúc của một người cha khi nhắc về kỷ niệm những ngày con còn thơ ấu với những bước đi chập chững đầu đời. Y Phương gợi nhắc quá khứ, gợi mở cho con những nền tảng đầu tiên về tình cảm gia đình ấm áp, về quá trình sinh ra và lớn lên của một con câu thơ sau gợi mở ra những vẻ đẹp của người dân tộc miền núi bằng câu thơ chứa chan tình cảm Những con người lao động với đôi bàn tay thô sơ, nhưng khéo léo, giữa cuộc sống nhiều khó khăn vất vả thế nhưng tâm hồn của “người đồng mình” vẫn rất đẹp, rất yêu đời, từng câu hát, câu ca trong lối sinh hoạt văn hóa. “Cha vẫn nhớ mãi về ngày cưới/Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời” là lời khẳng định hạnh phúc gia đình, khẳng định thêm về tình cảm gia đình vững chắc là cơ sở để cho con được một cuộc sống êm ấm, và cũng là cơ sở để gây dựng nên một cộng đồng dân tộc với những nét đẹp trong văn hóa, phong tục truyền Khổ thơ cuốiVẻ đẹp của “người đồng mình” không chỉ dừng lại ở sự khéo léo sáng tạo trong lao động hay lòng yêu cuộc sống, với những nét đẹp tập quán mà còn thể hiện ở ý chí và sức mạnh trong tâm hồn.“Cao” và “xa” là hai lượng từ khiến độc giả liên tưởng đến một vùng đất núi non trùng điệp khắc nghiệt vô cùng, nhưng những con người nơi đây chưa một lần lấy đó làm nản chí.“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh/Sống trong thung không chê thung nghèo đói” Là “người đồng mình” con phải học được cách thích nghi với cuộc sống, linh hoạt và mềm dẻo như dòng sông, con suối, dù là thác hay ghềnh đều không khiến con phải nản chí, chùn mong con hãy lấy người đi trước làm tấm gương sáng để noi theo để phấn đấu nỗ lực lấy cái tâm hồn mạnh mẽ, kiên cường, ý chí vượt khó lớn lao để góp phần xây dựng đất Kết bàiKhái quát lại nội dung, ý nghĩa bài thơ Nói với con và rút ra bài học, liên hệ bản tích bài thơ Nói với con mẫu 21. Mở bàiGiới thiệu một vài nét về Y Phương là người dân tộc Tày, thơ ông thể hiện tâm hồn mạnh mẽ, chân thực và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người dân tộc miền núi, mang đậm bản sắc vùng thiệu về bài thơ “Nói với con” là lời tâm sự, động viên chính mình đồng thời nhắc nhở con cái sau này của nhà Thân bàia. Cội nguồn sinh dưỡng của con- Cội nguồn gia đìnhCon lớn lên trong những tháng ngày chờ trông, mong đợi của cha mẹ.“Chân phải - chân trái”, “một bước - hai bước” phép đối tạo âm điệu vui tươi, tạo không khí đầm ấm, hạnh phúc, mỗi nhịp bước của con đều có cha mẹ dang rộng vòng tay che chở.⇒ Đó là tình cảm thiêng liêng mà con luôn phải khắc cốt ghi Cội nguồn quê hươngĐan lờ dụng cụ đánh bắt cá, đan lờ cài nan hoa công việc đã tạo nên vẻ đẹp của con người lao động, vách nhà ken câu hát cuộc sống hòa với niềm vui” Cuộc sống lao động của người đồng mình được gợi lên qua nhiều hình ảnh đẹp dụng các động từ đan, ken, cài vừa diễn tả những động tác cụ thể, khéo léo vừa nói lên cuộc sống gắn bó với niềm vui.“Rừng cho hoa” nhân hóa rừng không chỉ cho gỗ, cho lâm sản mà còn cho hoa → vẻ đẹp tinh thần.“Con đường cho những tấm lòng” đâu chỉ đan lối mà còn cho những tấm lòng cao cả tấm lòng cao cả, thủy Quê hương và gia đình nuôi con khôn lớn“Người đồng mình”- những người sống chung trên một miền quê, cùng một dân tộc, “thương lắm”- sự gắn bó yêu thương, đùm đồng mình có chí khí mạnh buồn được cụ thể hóa bằng chiều cao, chí được đo bằng độ xa → người đọc có thể cảm nhận nỗi buồn chồng chất trong cuộc sống của họ.⇒ Cuộc sống vẫn nhiều buồn lo cực nhọc nhưng tâm càng sáng chí càng bền, tầm nhìn càng xa càng đồng mình thủy chung tình nghĩa.“Sống”- khẳng định tâm thế bản lĩnh kiên cường, bất chấp khó khăn gian khổ.⇒ Mặc dù cuộc sống quê hương khó khăn vất vả nhưng họ “không chê”, học vẫn thủy chung với quê hương, gắn bó với quê hương để tạo dựng cuộc Lối sống phóng khoáng đầy nghị lựcSo sánh “như sống như suối” sức sống mãnh liệt, đầy ắp nghĩa “lên thác xuống ghềnh” nhưng người đồng mình vẫn không lo cực nhọc, vẫn đầy sự yêu mến tự hào về quê Người đồng mình giàu lòng tự trọng“Người đồng mình thô sơ da thịt”- họ có thể thô ráp, nói không hay, làm không khéo, làn da mái tóc dãi dầu mưa nắng nhưng phẩm chất bên trong không hề nhỏ bé, tầm Người đồng mình khát vọng xây dựng quê hương giàu đẹpNgười đồng mình tự lực tự cường, tự xây dựng quê hương bằng bàn tay khối ócHọ xây dựng quê hương, đưa quê hương có thể sánh ngang với các cường quốc năm châu⇒ Người cha gợi cho con niềm tự hào và khát vọng xây dựng quê hương, kế tục truyền thống đáng tự hào của dân tộcc. Điều cha mong muốn ở conCha nhắc con “lên đường” là khi con trưởng thành, dù ở bất cứ đâu, đi bất cứ nới nào cũng không bao giờ được sống một cách tầm thường phải luôn giữ lấy cốt cách giản dị, ý chí của dân tộc để vững bước ⇒ Qua đó cha thể hiện tình yêu con.⇒ Đó còn là lời của cha anh đi trước nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải vững tin vào cuộc đời để xây dựng quê hương giàu Kết bài- Khẳng định những giá trị nội dung, nghệ thuật làm nên thành công của bài thơThể thơ tự do, nhịp điệu vui tươi, các hình ảnh thơ đẹp, sử dụng các biện pháp tu từ quen thuộc,…Cha đưa con về với cội nguồn sinh dưỡng nhắc nhở con phát huy phẩm chất cao đẹp của quê hương để vững bước trên cuộc nhận về vẻ đẹp của người đồng mình qua bài thơ Nói với con - mẫu 1I. Mở bàiDẫn dắt và giới thiệu về bài thơ “Nói với con” cùng vẻ đẹp của người đồng mình trong bài Thân bài1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm- Y Phương là nhà thơ dân tộc Tày, sinh năm 1948, quê ở Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng. Có thể nói, Y Phương là một cây bút luôn băn khoăn, trăn trở về ý nghĩa và ý thức giữ gìn những giá trị cộng đồng. Dù là thơ hay văn xuôi, tác phẩm của ông bao giờ cũng đau đáu một tấm lòng hướng về quê hương xứ sở, về mảnh đất mình sinh ra và chôn nhau cắt rốn, về dân tộc mình và đất nước Trong thời điểm khó khăn thiếu thốn về vật chất và tinh thần năm 1980, Y Phương đã viết bài thơ mà sau này được đưa vào tuyển tập “Thơ Việt Nam 1945-1975”. Bài thơ này được coi là một trong những tác phẩm tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Mỹ, góp phần làm nên tên tuổi nhà thơ Y Phương. Để rồi qua lời thủ thỉ tâm tình của người cha với đứa con thơ trong những ngọt ngào của kỉ niệm quê hương, người cha nói với con những đức tính tốt đẹp của người đồng Phân tích những vẻ đẹp của người đồng mìnha. Người đồng mình đáng yêu bởi sự giản dị và tài hoa- Trên quê hương thơ mộng nghĩa tình, người đồng mình hiện lên trong cuộc sống lao động cần cù mà tươi vui"Người đồng mình yêu lắm, con ơi!Đan lờ cài nan hoaVách nhà ken câu hát".+ “Người đồng mình” là người bản mình, người quê mình – Y Phương có cách gọi rất độc đáo, rất gần gũi và thân thương về những con người quê hương.+ Với hình thức câu cảm thán “yêu lắm con ơi!”, người đọc cảm nhận lời tâm tình được cất lên từ đáy lòng thương mến của người cha về người đồng mình.+ Họ đáng yêu bởi họ là những con người yêu lao động. Với đôi bàn tay tài hoa, khéo léo, họ đã “đan”, “cài”, “ken”… cuộc sống như nở hoa dưới đôi bàn tay cần cù, sáng tạo của họ…=> Chỉ với những câu thơ ngắn gọn, nhà thơ giúp ta hình dung được hình ảnh đáng yêu của người đồng mình giữa núi rừng thơ mộng, hiền hòa. Vẻ đẹp của họ được gợi ra từ cuộc sống lao động bình dị, từ bàn tay tài hoa và khối óc sáng tạo. Họ có niềm vui giản dị, tinh tế ngay trong cuộc sống mộc mạc đời Người đồng mình biết lo toan và giàu mơ Người đồng mình không chỉ là những con người giản dị, tài hoa trong cuộc sống lao động mà còn là những con người biết lo toan và giàu mơ ước"Người đồng mình thương lắm con ơi!Cao đo nỗi buồnXa nuôi chí lớn".+ Với cách nói “Người đồng mình thương lắm con ơi!” người cha biểu lộ tình cảm yêu thương chân thành về gian truân, thử thách cùng ý chí mà người đồng mình đã trải qua.+ “Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn” lối tư duy độc đáo lấy cái hữu hình để đo cái vô hình, cho thấy càng gặp khó khăn, thử thách thì ý chí con người càng mạnh mẽ, vươn lên.+ Sắp xếp tính từ “cao”, “xa” trong sự tăng tiến, nhà thơ cho thấy khó khăn, thử thách càng lớn thì ý chí con người càng mạnh mẽ.=> Có thể nói, cuộc sống của người đồng mình còn nhiều nỗi buồn, còn nhiều bộn bề thiếu thốn song họ sẽ vượt qua tất cả, bởi họ có ý chí và nghị lực, họ luôn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của dân Người đồng mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn“Sống trên đá không chê đá gập ghềnhSống trong thung không chê thung nghèo đóiSống như sông như suốiLên thác xuống ghềnhKhông lo cực nhọc”.+ Phép liệt kê với những hình ảnh ẩn dụ “đá gập ghềnh”,“thung nghèo đói” => gợi cuộc sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc.+ Sử dụng thành ngữ “lên thác xuống ghềnh” đối với câu khẳng định “không lo cực nhọc” nhấn mạnh phẩm chất không ngại vượt khó của con người.=> Những câu thơ dài ngắn, cùng những thanh trắc tạo ấn tượng về cuộc sống trắc trở, gian nan, đói nghèo của quê hương.+ Điệp ngữ “sống”, “không chê” và điệp cấu trúc câu cùng hình ảnh đối xứng đã nhấn mạnh Người đồng mình có thể nghèo nàn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ không thiếu ý chí và quyết tâm. Người đồng mình chấp nhận và thủy chung gắn bó cùng quê hương, dẫu quê hương có đói nghèo, vất vả. Và phải chăng, chính cuộc sống nhọc nhằn, đầy vất vả khổ đau ấy đã tôi luyện cho chí lớn để rồi tình yêu quê hương sẽ tạo nên sức mạnh giúp họ vượt qua tất cả.+ Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình. Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sông trước niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con Người đồng mình có ý thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc- Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúng với người miền núi“Người đồng mình thô sơ da thịtChẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”+ Lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng chứa bao tâm tình.+ Cụm từ “thô sơ da thịt” là cách nói cụ thể về những con người mộc mạc, giản dị.+ Cụm từ “chẳng nhỏ bé” khẳng định sự lớn lao của ý chí, của nghị lực, cốt cách và niềm tin.=> Sự tương phản này đã tôn lên tầm vóc của người đồng mình. Họ mộc mạc nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý Cùng với ý thức tự lực, tự cường, người đồng mình còn ngời sáng tinh thần tự tôn dân tộc và khát vọng xây dựng quê hương“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong tục”.+ Lối nói đậm ngôn ngữ dân tộc – độc đáo mà vẫn chứa đựng ý vị sâu xa.+ Hình ảnh “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương” vừa mang tính tả thực chỉ truyền thống làm nhà kê đá cho cao của người miền núi, vừa mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc. Người đồng mình đã tự tay xây dựng nên truyền thống quê hương đẹp giàu, sánh tầm với các miền quê khác trên mảnh đất hình chữ S thân yêu.+ Câu thơ ngầm chứa niềm tự hào kiêu hãnh bởi họ vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân Đánh giáa Nội dungBài thơ này đặc trưng cho phong cách sáng tác của Y Phương. Nó gợi lên cảm nhận về gia đình và quê hương – nơi đóng vai trò quan trọng trong việc bồi đắp tâm hồn con người và tạo nên hạnh phúc. Từ những kỉ niệm đẹp về quê hương, người cha đã truyền đạt cho con những đức tính tốt đẹp của người đồng mình. Trong bài thơ, Y Phương miêu tả người đồng mình với sự giản dị và tài hoa. Họ là những người lao động cần cù và tươi vui trên quê hương thơ mộng nghĩa Nghệ thuật- Thể thơ tự do, các hình ảnh thơ đẹp, sử dụng các biện pháp tu từ quen thuộc,…- Nhịp điệu lúc nhẹ nhàng bay bổng, khi khúc chiết rành rột, lúc mạnh mẽ âm vang => lời khuyên của cha thấm sâu vào Ngôn ngữ thơ cụ thể, hàm súc, nhiều ý nghĩa, hình ảnh thơ độc đáo sinh động mang đậm bản sắc thơ ca miền núi cũng là những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác Kết bàiKhẳng định lại giá trị của tác phẩmCảm nhận về vẻ đẹp của người đồng mình qua bài thơ Nói với con - mẫu 21. Mở bàiGiới thiệu tác giả Y Phương, bài thơ Nói với con và dẫn dắt vào hình ảnh Người đồng mình qua bài Thân bàia. Người đồng mình là gì?Người đồng mình Người vùng mình, người miền mình; người cùng sống trên một miền đất, cùng quê hương, cùng một dân tộc. Người cha mong con sẽ biết tự hào về truyền thống quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống như người đồng Hình ảnh người đồng mình qua khổ thơ đầuNhững con người lao động với đôi bàn tay thô sơ, nhưng khéo léo, giữa cuộc sống nhiều khó khăn vất vả thế nhưng tâm hồn của “người đồng mình” vẫn rất đẹp, rất yêu đời, từng câu hát, câu ca trong lối sinh hoạt văn Hình ảnh người đồng mình qua khổ thơ cuốiVẻ đẹp của “người đồng mình” không chỉ dừng lại ở sự khéo léo sáng tạo trong lao động hay lòng yêu cuộc sống, với những nét đẹp tập quán mà còn thể hiện ở ý chí và sức mạnh trong tâm hồn.“Cao” và “xa” là hai lượng từ khiến độc giả liên tưởng đến một vùng đất núi non trùng điệp khắc nghiệt vô cùng, nhưng những con người nơi đây chưa một lần lấy đó làm nản “người đồng mình” con phải học được cách thích nghi với cuộc sống, linh hoạt và mềm dẻo như dòng sông, con suối, dù là thác hay ghềnh đều không khiến con phải nản chí, chùn mong con hãy lấy người đi trước làm tấm gương sáng để noi theo để phấn đấu nỗ lực lấy cái tâm hồn mạnh mẽ, kiên cường, ý chí vượt khó lớn lao để góp phần xây dựng đất Kết bàiKhái quát lại nội dung, ý nghĩa của hình ảnh người đồng mình nói riêng và bài thơ Nói với con và rút ra bài học, liên hệ bản các bạn tham khảo thêm tài liệu Ngữ văn lớp 9 ,Soạn văn lớp 9, Học tốt Ngữ Văn lớp 9, Soạn Văn lớp 9 ngắn nhất, Tài liệu học tập lớp 9Mời quý thầy cô cùng các bạn tham khảo tài liệu dưới đâyMùa xuân nho nhỏ - Hoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩmViếng lăng Bác - Hoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩmSang thu - Nội dung bài thơ, Hoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩmNói với con của Y Phương – Bồi dưỡng HSG Ngữ Văn 9
Câu hỏi Người đồng mình yêu lắm con ơiĐan lờcài nan hoaVách nhà ken câu hátRừng cho hoaCon đường cho những tấm ảnh “Con đường” trong đoạn thơ hiện lên thật đẹp. Hãy chép chính xác một câu thơ cũng xuất hiện hình ảnh con đường mang ý nghĩa biểu tượng trong một tác phẩm khác thuộc chương trình Ngữvăn 9. Câu thơ em vừa chép xuất hiện trong bài thơ nào? Tác giả là ai? Lời tâm tình, dặn dò tha thiết xúc động của nhà thơ Y Phương với con được thể hiện trong những câu thơ sau“Người đồng mình yêu lắm con ơiĐan lờ cái nan hoaVách nhà ken câu hátRừng cho hoaCon đường cho những tấm lòng.”Nói với con – Y Phương1 Trong câu thơ“Rừng cho hoaCon đường cho những tấm lòng”Các từ rừng, hoa, con đường theo em được hiểu theo những nghĩa nào?2 Qua những câu thơ trên nhà thơ đã nói với con về những điều gì?3 Hãy viết đoạn văn Trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ trên ....Đọc tiếp Xem chi tiết Câu 4 . Hình ảnh con chim, bông hoa cũng xuất hiện ở một bài thơ trong chương trình Ngữ Văn 9. Hãy cho biết đó là bài thơ nào? Của ai? Xem chi tiết Câu 1 Cảm hứng về lao động của tác giả đã tạo nên hình ảnh đẹp tráng lệ giàu màu sắc của con người trên biển hãy ghi ra những câu thơ đó ? Qua những câu thơ đó em cảm nhận về hình ảnh những người lao động trong bài thơ như thế nào ? Câu 2 Trong bài thơ Đoàn Thuyền Đánh cá nhà thơ Huy Cận có viết Thuyền ta lái gió với buồn trăng , Lướt giữa mây cao với biển bằng a, dựa vào cơ sở thực tế nào mà tác giả lại tưởng tượng mà sáng tạo ra hình ảnh lái gió với buồm trăng ? Đọc 2 câu thơ trên em...Đọc tiếpCâu 1 Cảm hứng về lao động của tác giả đã tạo nên hình ảnh đẹp tráng lệ giàu màu sắc của con người trên biển hãy ghi ra những câu thơ đó ? Qua những câu thơ đó em cảm nhận về hình ảnh những người lao động trong bài thơ như thế nào ? Câu 2 Trong bài thơ Đoàn Thuyền Đánh cá nhà thơ Huy Cận có viết Thuyền ta lái gió với buồn trăng , Lướt giữa mây cao với biển bằng a, dựa vào cơ sở thực tế nào mà tác giả lại tưởng tượng mà sáng tạo ra hình ảnh lái gió với buồm trăng ? Đọc 2 câu thơ trên em cảm nhận được vẻ đẹp nào của con thuyền khi ra khơi ? b, chép lại 1 câu thơ khác mà em đã học ở lớp 9 có sự liên tưởng giống câu thơ trên ? nêu tên bài thơ , tác giả Xem chi tiết Bài 3 Cho em câu thơ Con ở miền Nam ra thăm lăng Chép chính xác 3 câu thơ tiếp theo câu thơ trên ghi chú tên bài thơ và tác giả.- Viết 1 khoảng 8 – 10 câu hàng tre trong khổ thơ em vừachép. Trong đoạn, có sử dụng 1 câu bị một bài thơ, nhà thơ Viễn Phương viếtMai về niền Nam thường trào nước mắtMuốn làm con chim hót quanh lăng BácMuốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đâyMuốn làm cây tre trung hiếu chốn Đoạn thơ trên được trích trong văn bản nào? Nêu...Đọc tiếp Xem chi tiết liệt kê những bài thơ xuất hiện hình ảnh trăng trong chương trình lớp 6, 7, 8 tác giả, câu thơ xuất hiện hình ảnh trăngXIN CẢM ƠN !!! Xem chi tiết Trong bào “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận có câu thơ sau “Thuyền ta lái gió với buồm trăng”.1. Chép chính xác ba câu thơ tiếp theo? Dựa vào trình tự ra khơi của đoàn thuyền thì đoạn trích em vừa chép mang nội dung gì? Diễn đạt ngắn gọn bằng một câu văn2. Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng trong câu thơ “Thuyền ta lái gió với buồm trăng?”. Các biện pháp nghệ thuật đó đã góp phần khắc họa vẻ đẹp nào của những người ngư dân?3. Từ đoạn thơ vừa chép, với nhũng hiểu biết xã hội củ...Đọc tiếp Xem chi tiết Phần II. Tự luậnĐọc câu thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dướiCon ở miền Nam ra thăm lăng Báca. Chép lại chính xác 3 câu thơ tiếp theo để hoàn thiện khổ thơ. 1đb. Câu thơ trên được trích từ tác phẩm nào? Ai là tác giả? Nội dung chính của bài thơ đó là gì? 1đc. Viết một đoạn văn ngắn từ 7 – 10 câu nêu cảm nhận của em về khổ thơ trên, trong đó có sử dụng phương tiện liên kết câu lặp và tiếp Xem chi tiết Hình ảnh “con én đưa thoi” gợi cho em điều gì? Chép chính xác câu thơ có sử dụng hình ảnh “thoi” ghi rõ tên bài thơ và tên tác giả. Xem chi tiết Hình ảnh “con én đưa thoi” gợi cho em điều gì? Chép chính xác câu thơ có sử dụng hình ảnh “thoi” ghi rõ tên bài thơ và tên tác giả. Xem chi tiết